CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH ( phần 1 ).

by tuongtamtuu
3 comments 20k views

1. X QUANG QUY ƯỚC.

1.1. Bản chất , đặc tính và đặc điểm của tia X

Bản chất của tia X là sóng điện từ gồm những sóng xoay chiều theo chu kỳ, cùng 1 chiếc có ánh sáng, sóng vô tuyến điện. Đặc điểm của những bức xạ trên là truyền đi có tốc độ sắp giống nhau (khoảng 300000km/s) chỉ khác nhau về bước sóng, chu kỳ và tần số. Tia X có bước sóng dài khoảng 10cm và có một số đặc tính sau:

– Tính truyền thẳng và xuyên thấu: tia X truyền thẳng theo tất cả hướng và sở hữu khả năng xuyên qua vật chất, qua thân thể người. Sự xuyên thấu này càng dễ dàng khi cường độ tia càng tăng.

– Tính bị hấp thụ: sau khi xuyên qua vật chất thì cường độ chùm tia X bị giảm xuống do 1 phần năng lượng bị hấp thụ. Đây là cơ sở của các phương pháp chẩn đoán X quang và liệu pháp X quang. Sự hấp thụ này tỷ lệ thuận với:

+ Thể tích của vật bị chiếu xạ: vật càng lớn thì tia X bị tiếp nhận càng nhiều.

+ Bước sóng của chùm tia X: bước sóng càng dài tức là tia X càng mềm thì sẽ bị tiếp nhận càng nhiều

+ Trọng lượng nguyên tử của vật: sự kết nạp nâng cao theo trọng lượng nguyên tử của chất bị chiếu xạ

+ Mật độ của vật: số nguyên tử trong 1 khoảng trống nhất thiết của vật càng nhiều thì sự tiếp thu tia X càng tăng. Ví dụ nước ở trạng thái lỏng hấp thụ tia X nhiều hơn ở trạng thái hơi.

– Đặc tính truyền thẳng, đâm xuyên và hấp thụ của tia X là những đặc tính quan trọng trong tạo hình X quang. Tính chất quang đãng học: giống như ánh sáng, tia X cũng sở hữu những hiện tượng quang đãng học như khúc xạ, phản xạ, nhiễu xạ và tán xạ. Những tính chất này tạo phải các tia đồ vật trong thân thể khi nó xuyên qua và gây bắt buộc giảm độ tương phản trên các phim chụp. Để chống lại hiện tượng này người ta sở hữu thể tiêu dùng loa khu trú, đóng nhỏ chùm tia, lưới lọc….

– Tính chất gây phát quang dưới tác dụng của tia X 1 số muối trở nên phát – quang như clorua, Na, BA, Mg, Li,… và với chất trở nên sáng như Tungstat cadmi, platinocyanua Bari các chất này được dùng để cung ứng màn huỳnh quang quẻ sử dụng lúc chiếu X quang, tấm nâng cao quang.

– Tinh chất hoá học: tính chất hoá học quan yếu nhất của tia X là tác dụng lên muối bromua bạc trên phim và giấy ảnh làm cho cho nó chuyển đổi thành bạc khi chịu tác dụng của các chất khử trong thuốc hiện hình. Nhờ tính chất này mà nó cho phép ghi hình X quang của những phòng ban trong cơ thể lên phim và giấy ảnh.

– Tác dụng sinh học: khi truyền qua cơ thể tia X có rất nhiều những tác dụng sinh học. Tác dụng này được dùng trong điều trị đồng thời nó cũng gây nên các biến đổi mang hại cho cơ thể.

1.2. Các kỹ thuật X quang quy ước

1.2.1. Chiếu X quang

Chùm tia X sau lúc truyền qua vùng thăm khám của cơ thể thì suy giảm do bị tiếp nhận bởi các cấu trúc. Sự suy giảm này phụ thuộc vào độ dày, mật độ của những cấu trúc mà nó đi qua. Cuối cùng, chùm tia tác dụng lên chất huỳnh quang quẻ trên màn chiếu và các phòng ban của vùng thăm khám được hiện ảnh trên màn chiếu này. Việc phân tích hình ảnh chẩn đoán được tiến hành cộng thời điểm phát tia trên màn chiếu của máy X quang. Chùm tia X được tiêu dùng khi chiếu sở hữu độ đâm xuyên làng nhàng (từ 70 tới 80KV) và với cường độ tốt (chỉ khoảng từ 1,5 đến 3 miliampe).

Sự phát huỳnh quang của màn chiếu ko đủ sáng, bởi thế việc chiếu điện cần làm cho trong buồng tối và để quan sát rõ tổn thương bắt buộc thích ghi mắt trong bóng tối chí ít 10 đến 15 phút trước lúc chiếu.

Hiện nay, phương pháp chiếu X quang quẻ để chẩn đoán hầu như không còn được áp dụng. Tuy nhiên, trong X quang can thiệp, X quang đãng mạch máu, X quang đãng tiêu hoá bí quyết chiếu vẫn được dùng nhưng việc ghi hình được thực hiện bằng X quang nâng cao sáng truyền hình. Phương pháp chiếu X quang đãng nâng cao sáng truyền hình cho chất lượng hình ảnh cao hơn, cường độ sáng cao hơn, bởi vậy nó được tiến hành trong phòng sáng thông thường và cho phép giảm liều tia X hơn cho bệnh nhân và cho cả bác bỏ sĩ Chẩn đoán hình ảnh.

1.2.2. Chụp X quang

a) Kỹ thuật

Khác có chiếu, sự ghi hình X quang của các bộ phận thăm khám được thực hiện trên phim hoặc giấy ảnh. Để ghi được hình trên phim X quang thì tia X bắt buộc được phát xạ với một điện thế cao (từ 50 KV đến 100 hoặc 150 KV) và với cường độ mẫu qua bóng X quang đãng to (từ 100–200mA, và các máy tiên tiến hiện tại có thể lên đến 500 tới 1000KV). Hai yếu tố này nhằm đảm bảo cho sự ghi hình nhanh hạn chế được hình nhiễu của những cơ quan động (như tim, ống tiêu hoá .v.v…) và phù hợp với thời kì nín thở của bệnh nhân.

Phim X quang quẻ có cấu tạo căn bản là hai mặt được tráng bởi nhũ tương muối bạc (bromua bạc). Phim ảnh được ép vào giữa hai tấm tăng ánh sáng đặt trong cassette. Bề mặt tấm tăng quang đãng được phủ bằng một lớp chất phát huỳnh quang đãng (thường là Tungstat cadmi). Dưới tác dụng của tia X những lớp huỳnh quang này sẽ phát quang và tác dụng lên phim để ghi hình phòng ban thăm khám mà nó truyền qua. Tia X chỉ tác dụng lên phim khoảng 10% còn lại khoảng 90% tác dụng này là do ánh sáng huỳnh quang đãng phát ra từ tấm nâng cao quang. Vì vậy, nhờ tấm tăng quang đãng mà thời gian chụp mang thể giảm đi siêu nhiều. Hiện này, có tấm tăng quang quẻ mang độ nhạy cao thì thời gian và cường độ chụp càng được giảm hơn nữa.

b) Các phương pháp chụp X quang

– Chụp X quang ko chuẩn bị bao gồm những khoa học chụp X quang các phòng ban của cơ thể như chụp xương khớp, chụp bụng, chụp sọ não, chụp cột sống, chụp phổi, chụp hệ tiết niệu .v.v… ko sử dụng được chất cản quang.

Chụp X quang mang chuẩn bị được tiêu dùng để chỉ các công nghệ X quang đãng quy ước với dùng dược chất cản quang đãng (Barisulfat, những thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch) như chụp lưu thông thực quản–dạ dày-tá tràng sở hữu baryt, chụp niệu đồ tĩnh mạch .v.v…

Ngoài ra, trước đây để cố gắng làm tăng khả năng chẩn đoán người ta mang thể sử dụng các khoa học chụp X quang như: chụp cắt lớp thường quy (tomographie conventionelle), chụp X quang động (kymograhie), chụp huỳnh quang v.v… Tuy nhiên, ngày nay với sự ra đời và phát triển của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ thì các kỹ thuật này hầu như không còn được sử dụng nữa. Đồng thời, những công nghệ chụp X quang quẻ mạch máu và X quang can thiệp được tách thành 1 chuyên ngành riêng được gọi là X quang quẻ mạch máu và can thiệp.

2. CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH

Chụp cắt lớp vi tính theo cách gọi của người Anh, Mỹ là C.T Scanner bắt nguồn từ cụm từ computer Tomography hoặc computer Tomography Scanner, người Pháp thường gọi là chụp cắt lớp theo tỷ trọng–Tomodensitometrie (TDM), Việt Nam bí quyết này được gọi là chụp cắt lớp vi tính hay chụp cắt lớp điện toán.

2.1. Nguyên lý kỹ thuật

Chụp cắt lớp vi tính có thể được khái niệm như một cách đo tỷ trọng X quang quẻ của các công ty diện tích của 1 lát cắt. Phương pháp này cho ra các hình ảnh lát cắt của cơ thể có sự phân tách tỷ trọng 100 lần xác thực hơn trên hình ảnh X quang quẻ thường quy.

Hình 1. Sơ đồ đại cương về nguyên lý chụp CLTVT.

Bóng X quang Chùm tia X rất hẹp được phát ra từ bóng X quang bị suy giảm sau khi đi xuyên qua một phần của cơ thể được thu nhận bởi đầu thu nhận hay đầu thu (détecteur). Đầu kết nạp này được cấu tạo bằng các tinh thể lấp láy hoặc bằng những buồng ion hoá cho phép lượng hoá số đo. Độ nhạy của các đầu tiếp nhận cao hơn cực kỳ phổ biến so sở hữu phim X quang. Bóng X quang quẻ và đầu tiếp nhận được nhất quyết bằng khung kim loại và hai bộ phận này quay quanh co vùng buộc phải chụp của thân thể nằm giữa chùm tia.

Bệnh nhân Bộ cảm biến Sau khi chùm tia đi qua cơ thể bệnh nhân, bộ cảm biến điện tử sẽ truyền tín hiệu về trung tâm hệ thống thu nhận dữ liệu (data acquisition system: D.A.T) để mã hoá và truyền vào máy tính độ thu nhận của chùm tia này mang độ xác thực vô cùng cao. Tuy nhiên, hình chiếu của một chùm tia sau khi đi qua một phòng ban của thân thể vào bộ cảm biến không đủ để mang thể tạo được hình ảnh cấu trúc của 1 mắt cắt. Vì vậy, nhờ sự chuyển động lòng vòng bệnh nhân của chùm tia theo một mặt phẳng cắt hàng loạt các phép đo được thực hiện ở các góc độ khác nhau. Ở mỗi vị trí của chùm tia, 1 mã số về sự suy giảm tuyến tính (linear attenuation) sẽ được ghi nhớ trong bộ nhớ. Khi chuyển động quét kết thúc, bộ nhớ đã ghi nhận được một số lượng rất lớn những số đo tương ứng với những góc khác nhau trong mặt phẳng quét. Tổng hợp những số đo và nhờ máy vi tính xử lý các số liệu đó ta có những kết quả bằng số.Nhờ những bộ phận tinh tướng khác với trong máy, những số ấy được biến thành hình ảnh và hiện trên màn ảnh máy thu hình với hình ảnh 1 lát cắt ngang qua cơ thể.

2.2. Nguyên lý tái dựng hình ảnh theo ma trận. Đơn vị Hounsfield

Máy vi tính sở hữu các cách toán học phức tạp, dựa vào sự hấp thu tia X ở mặt cắt, tạo bắt buộc hình cấu trúc mặt cắt. Nguyên lý việc tái tạo lại thành hình từ các số phụ thuộc vào các con số chứa trong ma trận tức là các cột và các dẫy. Những cột và những dẫy này tạo buộc phải những đơn vị diện tích căn bản gọi là Voxel (Volume elment), chiều cao của mỗi Voxel phụ thuộc vào chiều dày của lớp cắt, thường là từ 1 tới 10mm. Mỗi Voxel hiện lên ảnh như 1 doanh nghiệp ảnh cơ bản gọi là Pixel (Picture element), cũng mang nghĩa là Voxel trong ma trận biến thành Pixel trên ảnh. Tổng các ảnh cơ bản đấy hợp thành một quang đãng ảnh.

Hình 2. Nguyên lý tạo dựng hình ảnh theo ma trận

Tuỳ theo chừng độ thu nhận tia X của mỗi Voxel mà mỗi Voxel có 1 mật độ hay tỷ trọng quang quẻ tuyến X (Radiologic density) khác nhau và thể hiện trên màn hình là những Pixel có độ đậm nhạt khác nhau. Cấu trúc tiếp thụ tia X càng đa dạng thì mật độ hay tỷ trọng quang quẻ tuyến X càng cao. Dựa vào hệ số suy giảm tuyến tính (linear attenuation coefficient) của chùm tia X khi đi qua một cấu trúc, người ta có thể tính ra tỷ trọng lượng của cấu trúc đó theo đơn vị Hounsfield qua công thức.

– N(H) là tỷ trọng của một cấu trúc x tính theo đơn vị x tính theo đơn vị Hounsfield.

− M(x) là hệ số suy giảm tuyến tính của quang tuyến X khi đi qua một đơn vị thể tích cấu trúc x.

– K là hệ số có giá trị bằng 1.000 theo Hounsfild đưa ra và đã được chấp nhận. dựa vào công thức phía trên thì tỷ trọng theo đơn vị Hounsfield của:

– Nước tinh khiết (H,O) là O đơn vị Hounsfield

– Không khí là – 1.000 đơn vị Hounsfild

– Xương đặc là + 1.000 đơn vị Hounsfild.

Máy chụp cắt lớp vi tính hiện nay thường có rất nhiều ma trận: 252 x 252; 340 x 340 và 512 x 512. Máy thế hệ 4 có cả ma trận 1.024 x 1.024 = 1.048.575 đơn vị thể tích (Voxel). Điều này chứng tỏ con số đo lường rất lớn và độ phân giải rất cao của hình chụp cắt lớp vi tính. Thí dụ với ảnh chụp trong ma trận 512 x 512, Pixel có diện tích bé hơn 1mm rất nhiều, với cạnh có chiều dài 0,2mm.

Ma trận tái hiện càng lớn thì cho ảnh càng chi tiết, tức thị trong ma trận 512 x 512 số lượng thông tin phải xử lý và lưu trữ tăng so với lúc tiêu dùng ma trận 340 x 340. Tuy nhiên, loại ma trận 512 x 512 cần nhiều thời gian hơn loại 340 x 340 để tạo ảnh và chiếm khoảng rộng hơn trong bộ nhớ để lưu giữ ảnh trong đĩa từ. Như vậy, với một đĩa từ nhất định và chỉ để lưu trữ một loại ảnh thì số lượng ảnh loại ma trận 512 x 512 được lưu trữ sẽ ít hơn so với loại 340 x 340.

Trong thăm khám thường nhật thì tiêu dùng cái ma trận 340 x 340 là đủ, nhưng muốn khám xét các yếu tố nhỏ như tai trong hoặc thương tổn rất nhỏ trong não thì bắt buộc tiêu dùng loại ma trận 512 x 512 hoặc 1024 x 1024.

2.3. Đặc điểm hình ảnh

Máy chụp cắt lớp vi tính cho phép phân biệt được những sự dị biệt cực kỳ nhỏ của những doanh nghiệp với tỷ trọng khác nhau. Trong thân thể con người nó có thể mã hoá khoảng từ hai nghìn đến bốn nghìn chừng độ khác nhau (tuỳ cái máy) về tỷ trọng giữa cấu trúc sở hữu thuộc tính khí và cấu trúc có tính chất xương.

Một máy thu hình dược biến thành hình ảnh các mã số đã có. Tuy nhiên, mang mắt thường ta chỉ mang thể phân biệt được từ đen tới trắng khoảng 12 đến 20 chừng độ khác nhau. Như vậy, với một sự bất cân xứng giữa số lượng thông tin đựng trong bộ nhớ có hàng nghìn mức độ về tỷ trọng mang mắt thường chỉ cho phép phân biệt được dưới 20 cấp độ. Để giải quyết vấn đề này người ta nên ứng dụng bí quyết mở cửa sổ gắn với bậc thang xám trên màn hình để nghiên cứu. Cửa sổ được xác định bằng điểm giữa của cửa sổ (Center hoặc Level) và độ mở mang của cửa sổ (Width) trên giải công ty Hounsfield.

Hình 3. Bậc thang hấp thụ của Hounsfield

Nếu cửa sổ mở mang hết mức, xương biểu hiện bằng hình trắng, ko khí hình đen và cấu trúc sở hữu tính chất dịch với hình xám, hình ảnh thu được giống như hình 1 phim X quang thông thường. Trái lại nếu ta tậu điểm giữa của cửa sổ là số đo tỷ trọng trung bình của cấu trúc nên khám xét, sau ấy điều chỉnh cửa sổ là số đo tỷ trọng làng nhàng của cấu trúc bắt buộc khám xét, sau đấy điều chỉnh cửa sổ hẹp lại 1 bí quyết ưng ý sẽ thấy trên màn thu hình sự sai biệt về đậm độ vô cùng rõ của những bộ phận phía trên cửa sổ sẽ mang hình trắng và các cấu trúc có tỷ trọng lượng ở phía dưới cửa sổ sẽ có hình màu đen. Thí dụ trên một mặt cắt ở sọ giả dụ tậu điểm giữa của cửa sổ là 35 công ty Hounsfield, độ mở của cửa sổ là 100 đơn vị Hounsfield, ta sở hữu thể thấy rõ hình các não thất với dịch não tuỷ và hình của các chất xám, chất trắng của não, hình của khối u, khối máu tụ, khối áp xe… có đậm độ siêu khác nhau. Nếu ta muốn tìm vỡ, gãy xương ở sọ thì ta cần sắm điểm giữa của cửa sổ là 240 công ty Hounsfield và độ mở của cửa sổ là 2.000 doanh nghiệp Hounsfield. Còn ở phổi, tuỳ nơi ta muốn khám xét là nhu mô phổi, trung thất hoặc xương… mà ta bắt buộc tậu điểm giữa của cửa sổ và độ mở cửa sổ khác nhau.

Khác với chụp X quang quẻ thường quy, trong đó đa số những thông tin đều nằm trên phim còn trong thăm khám bằng chụp cắt lớp vi tính thì toàn bộ thông tin chứa trong bộ nhớ và người điều khiển chỉnh lý máy để chọn các hình ảnh mang ý nghĩa cho chẩn đoán. Những hình ảnh hiện trên màn hình của máy thu hình được diễn đạt dưới dạng như người quan sát nhìn mặt cắt dò hỏi từ dưới chân bệnh nhân nhìn lên: đấy là những mặt cắt chụp cắt lớp theo trục ngang, thẳng góc mang trục của cột sống.

Tuy nhiên, các mặt cắt này thường liên tục và sát nhau, buộc phải máy tính sở hữu khả năng ráp những mặt cắt này lại và tái tạo để cho ta những hình ảnh tương ứng theo những mặt phẳng tự sắm như mặt phẳng đứng dọc giữa (plan sagital) hoặc theo mặt phẳng đứng ngang (plan frontal). Như vậy, máy chụp cắt lớp vi tính ko phải chỉ là máy đơn giản cho ta hình ảnh cắt lớp theo trục ngang mà còn có khả năng cho ta các hình ảnh cắt lớp theo cả trục đứng nữa, tuy hình ảnh cắt lớp theo trục đứng ko với chất lượng phải chăng như trục ngang. Tuy nhiên, bây giờ với máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu thì hạn chế này đã được khắc phục. Độ phân giải của hình ảnh tái tạo phụ thuộc vào chiều dày và khoảng bí quyết giữa những mặt cắt theo trục ngang. Hiện nay, có máy chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (Helical Scaner hoặc Balayage Spirale Volumique), bóng phát tia X và bộ cảm biến quay liên tiếp trong khi bệnh nhân chuyển dần vào khung máy, lược đồ quét và tạo ảnh sẽ là một hình xoắn ốc liên tục và các ảnh tái hiện sẽ có độ phân giải cao hơn.

Hình 5. Tái DỰNG hình ảnh từ bề mặt phẳng ngang
a. Thành mặt phẳng đứng ngang;
b. Thành mặt phẳng đứng dọc.

Người ta sở hữu thể sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính để với 1 hình toàn thể như phim chụp X quang quẻ ở phong độ thẳng hoặc chếch hoặc nghiêng, bằng phương pháp đi này thường khai mạc cho khám xét bằng chụp cắt lớp vi tính và để thầy thuốc với 1 hình ảnh tổng quát về khu vực muốn thăm khám và trên cơ sở đó phân chương trình quét, đặt độ dày cũng như khoảng bí quyết giữa các lớp cắt… ảnh này với tên gọi khác nhau: ảnh định khu (Topogramme), ảnh chỉ dẫn (Scout – view), ảnh X quang đãng vi tính (Comuted radiography).

Tuỳ theo khu vực muốn thăm khám ta cần tìm các mốc phẫu thuật thích hợp cho những lớp cắt. Thí dụ ở sọ thông thường là những mặt cắt song song sở hữu đường khoé mắt — lỗ tai bên cạnh (ligne orbio – meatale). Ở ngực và ở bụng cũng là các lớp cắt theo trục ngang (coupe axiale transsverse) và các mốc phẫu thuật là mũi kiếm xương ức (xyphoide) và mào chậu.

Khi đã với các hình ảnh bắt buộc thiết và có ích cho việc chẩn doán bệnh, nhờ một bộ phận chụp ảnh mang trong máy, người ta sở hữu thể chụp những hình ảnh trên sở hữu các kích thước khác nhau.

Máy chụp cắt lớp vi tính lưu trữ các hình ảnh trong những băng hoặc đĩa từ. Khi buộc phải thiết, sau này người ta mang thể sử dụng, máy để nghiên cứu các hình ảnh đã lưu trữ đó vào bất cứ lúc nào.

2.4. Nhiễu ảnh

Hình ảnh kém chất lượng tạo hay nhiễu ảnh (artefact) thường khiến cho ảnh thu được không có giá trị chẩn đoán. Nguyên nhân với thể do: – Trong khu vực thăm khám với những vật bằng kim cái như mảnh đạn, răng giả, kẹp sắt… đã hấp thu toàn bộ tia X khi đi qua và tạo buộc phải 1 hình tăng tỷ trọng (hyperdense) phát ra các tia khuyếch tán như mặt trời làm cho phim ko sao đọc được. Một xương dày đặc cũng sở hữu thể gây buộc phải nhiễu ảnh như ở hố sau của sọ, của cột sống, của vai… – Bệnh nhân là con nít hoặc bệnh nhân bị hôn mê xoành xoạch cử động, ko nằm yên cũng khiến cho cho hình ảnh bị mờ, bờ không rõ nét. Các cơ quan luôn luôn vận động như tim, ống tiêu hoá, cơ hoành… cũng mang thể cho các hình ảnh bị mờ như vậy. Nhiễu ảnh sở hữu thể do máy: trong công đoạn di chuyển xoay tròn vòng vèo bệnh nhân của bóng phát tia X và bộ cảm biến đôi lúc thiếu nhịp nhàng và ko đều cũng gây nên nhiễu ảnh. – Cuối cùng nhiễu ảnh có thể do hệ quả diện tích (volume partiel). Máy vi tính – phân phối cho mỗi Voxel 1 số đo về tỷ trọng trung bình. Nếu bề dày của lớp cắt sở hữu đồng thời cả chất khí, chất lỏng, xương… thì trị số chế tạo cho mỗi Voxel là số nhàng nhàng cộng với các tỷ trọng khác nhau phải hình không chính xác. Để giảm tối đa hậu quả của hiện tượng mảnh thể tích, lúc thăm khám một số vùng như hố yên, đường tai trong… lớp cắt buộc phải thật mỏng (1mm) và phải tiêu dùng ma trận tái hiện lớn (512 x 512 hoặc 1.024 x 1.024).

2.5. Sử dụng chất đối quang

Trong chụp cắt lớp vi tính nhiều lúc cần phải dùng đến chất đối quang từ. Hai hình thức chính để dựa chất đối quang từ vào cơ thể: đưa vào khoang tự nhiên và lòng mạch.

2.5.1. Đưa vào khoang tự nhiên

như ống tiêu hoá, các tạng rỗng, khoang dưới nhện… với mục đích làm tăng đối quang với các tạng xung quanh, thấy rõ hơn hình dáng, đường bờ, các thành phần bên trong của tạng muốn thăm khám cũng như thúc đẩy của chúng với các cấu trúc lân cận. Đối với khoang dưới nhện, từ cột sống lên não, vào những não thất và bể não: tiêm thuốc cản quang (10ml) loại không ion, hàm lượng dưới 200mg/ml) vào vỏ tuỷ sống (injection intrahécale) rồi cho bệnh nhân nằm theo phong thái Trendelenbourg. Qua những lớp cắt ở những thời khắc khác nhau ta sở hữu thể biết được thuốc cản quang quẻ chuyển dịch nhanh hay chậm hoặc vị trí nơi tắc nghẽn làm cho thuốc không chuyển dịch được. Ngoài ra, trong giả dụ chấn thương, nước não tuỷ chảy ra theo đường mũi, bí quyết này sở hữu thể phát hiện được ra nơi nứt rách của xương- màng cứng (ostéo dural). Khi sử dụng chất đối quang là dung dịch cản quang trong chụp cắt lớp vi tính ta phải nên chú ý:

– Dung dịch cản quang quẻ phải với độ cản quang đãng ổn định, chất cản quang quẻ nên được hoà tan đều trong dung dịch, ko với hiện tượng lắng, kết tủa.

– Dung dịch cản quang đãng buộc phải với sức ép thẩm thấu cân bằng có thân thể (330 mosmol/kg) để giảm thiểu hiện tượng cô đặc hoặc hoà loãng thuốc cản quang do bàn luận dịch mang cơ thể.

– Độ cản quang quẻ của dung dịch không được cao quá để giảm thiểu hình thành các nhiễu ảnh nhân tạo như trong ví như mang kim loại trong cơ thể. Độ cản quang đãng ưng ý của dung dịch là 150 tổ chức Hounsfield.

2.5.2. Đưa thuốc vào lòng mạch:

hình thức chủ yếu là tiêm vào tĩnh mạch dòng thuốc cản quang đãng thải trừ qua đường thận. Dựa vào những hiểu biết về dược động học của thuốc cản quang đãng trong thân thể để quyết định lượng thuốc, tốc độ bơm và thời khắc chụp hình ảnh cắt lớp vi tính so với thời điểm bơm thuốc. Với phương pháp này người ta với thêm thông tin về mức độ ngấm thuốc cản quang đãng của thương tổn như ngấm rộng rãi hay ít, hay ko ngấm. Các hình thái ngấm cũng mang thể khác nhau: ngấm đều, ngấm thành đám, ngấm thành vòng xung quanh tổn thương. Các hình ảnh trên biểu lộ sự dị biệt về mức độ và kiểu tưới máu của vùng tổn thương.

Ví dụ:

-U màng não (ménigniome), u tâm thần (Neurinome) ngấm mạnh và đồng đều thuốc cản quang, u tâm thần đệm (Gliome) ngấm thuốc thành đám.

-Khối áp xe mới hình thành do công ty hạt bao quanh co áp xe rất giàu tuần hoàn bắt buộc ngấm thuốc cản quang đãng mạnh và hình vòng.

-U tế bào hình sao (astrocytome) bậc thấp, khối máu tụ ko ngấm thuốc cản quang.

2.6. Các bộ phận của máy

Máy chụp cắt lớp vi tính bao gồm có 4 bộ phận chính: hệ thống đo lường kết quả , hệ thống xử lý các dữ liệu sau khi đo , hệ thống điều khiển, hệ thống lưu trữ dữ liệu.

– Hệ thống đo lường bao gồm bóng phát tia X và bộ cảm biến liên kết chặt chẽ mang nhau và vận động xoay quanh quéo bệnh nhân. Hai phòng ban này mang 1 vỏ bọc bảo vệ và với thể điều chỉnh được để khiến sao chùm tia X chiếu chuẩn xác vào phía bệnh nhân theo mặt cắt mà bác sĩ muốn khám. Chùm tia X cực kỳ mảnh với thể đổi thay độ dày từ 1 đến 10mm.

– Hệ thống xử lý những dữ kiện. Đó là pc tính tỷ trọng quang quẻ tuyến của TOT các Voxel. Với máy thông dụng hiện nay, việc xử lý những dữ kiện được tiến hành ngay trong thời kì đo tạo cần ảnh ở thời gian thực tiễn (image entemps réel).

– Hệ thống điều khiển. Gồm rộng rãi phím bấm để đưa vào máy các đề nghị như: chụp hình khu vực muốn nghiên cứu, số lượng, độ dày, khoảng cách giữa các lớp cắt, dặt điểm giữa và độ mở cửa sổ, đo tỷ trọng ở những bộ phận nhỏ, đo độ dài, rộng của tổn thương, tái hiện lại hình theo trục đứng… Tất cả các bắt buộc ấy đều được đáp ứng và biểu hiện trên màn hình của máy thu hình. Cạnh ấy là bộ phận chụp ảnh, nó chụp lại các hình hữu dụng cho chẩn đoán theo bắt buộc của người điều khiển máy.

— Hệ thống lưu trữ. Các dữ kiện được ghi lại và lưu trữ trong những băng từ hoặc đĩa từ và với thể cung ứng lại cho bác sĩ bất cứ khi nào các hình ảnh thương tổn bệnh lý của bệnh nhân đã thăm khám,

Với các máy thông dụng hiện nay, tất cả các bộ phận trên có thể bố trí, xếp đặt trên một diện tích có kích thước 5m x 5m = 25m².

2.7. Các thế hệ máy chụp cắt lớp vi tính

2.7.1. Thế hệ thứ nhất:

Bộ cảm biến chỉ mang 1 đơn vị. Bóng phía tia X và bộ cảm biến kết hợp mang nhau cực kỳ chặt chẽ và tiến hành chậm chạp từng bước động tác tịnh tiến rồi động tác quay. Chùm tia X vô cùng nhỏ chiếu qua 1 bộ phận của thân thể 1 phần để rồi đến bộ cảm biến. Khi bóng tia X quay được 1 độ thì nên tịnh tiến để rồi phát ra tia X quét ngang một bộ phận của cơ thể. Bóng phát tia X và bộ cảm biến nên quay nói quanh nói quẩn cơ thể 360° và tiến hành chậm chạp như thế bắt buộc để có một quang đãng ảnh bắt buộc mất vài phút.

2.7.2. Thế hệ thứ hai:

Máy hoạt động vẫn theo nguyên tắc quay và tịnh tiến như trên nhưng chùm quang đãng tuyến X có độ mở rộng hơn (khoảng 10 độ) và đối diện với độ cảm biến mang rộng rãi công ty hơn (từ 5 tới 10 đơn vị). Do chùm quang quẻ tuyến X rộng hơn và độ cảm biến sở hữu phổ biến doanh nghiệp hơn cần giảm bớt được số lần tịnh tiến: thời kì để sở hữu một quang ảnh được rút ngắn hơn, mất khoảng từ 6 tới 20 giây.

2.7.3. Thế hệ thứ ba:

Máy hoạt động chỉ còn động tác quay kế bên bệnh nhân, không còn động tác chuyển dịch tịnh tiến. Chùm quang tuyến X được mở rộng, có thể trùm tất cả phòng ban cơ thể cần chụp. Bộ cảm biến có từ 200 tới 400 công ty ghép thành một cung đối diện sở hữu bóng X quang. Bóng X quang quẻ vừa quay vừa phát tia, bộ cảm biến quay cùng chiều có bóng và ghi kết quả. Thời gian để có một quang đãng ảnh mất từ một tới 4 giây.

2.7.4. Máy chụp cắt lớp xoắn đa dãy đầu thu:

Một dãy bóng X quang quay vòng vèo bệnh nhân, nhưng với đến 2, 4, 6, 8,… 64 dãy đầu tiếp nhận tín hiệu. Với các thế hệ máy này cho phép ghi hình phòng ban chụp ở những mặt phẳng khác nhau; thăm khám tim, mạch vành, huyết quản não, mạch máu vùng bụng cũng như ngoại vi.

2.8. Lượng nhiễm ха đối với chụp cắt lớp vi tính

Liều nhiễm quang quẻ tuyến X tại vùng cơ thể chụp cắt lớp vi tính tương đương sở hữu liều tại chỗ của 1 lần khám đại tràng hoặc chụp thận tiêm tĩnh mạch (2 – 3rad). Liều sinh dục: do cấu trúc của máy bảo vệ rẻ phải thường thấp hơn phổ biến so sở hữu khám X quang quy ước ví như ko chụp cắt lớp vi tính trực tiếp tại vùng sở hữu cơ quan sinh dục.

2.9. Chỉ định chụp cắt lớp vi tính trên lâm sàng

Chụp cắt lớp vi tính thành lập là 1 cuộc phương pháp mạng to đối có ngành Chẩn đoán hình ảnh. Ngày nay, máy chụp cắt lớp vi tính đã rộng rãi tới những tuyến y tế tỉnh và được chỉ định phổ biến trong chẩn đoán bệnh. Trong thăm khám các tạng vùng bụng và sau phúc mạc, chụp cắt lớp vi tính thường được chỉ định sau cực kỳ âm. Đối có chẩn đoán bệnh lý lồng ngực, bệnh lý xương thì đây là phương pháp được chỉ định ngay sau X quang quẻ quy ước. Chẩn đoán bệnh lý thần kinh thì mang sự cạnh tranh và đàm đạo giữa chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ: bệnh lý cấp cứu do chấn thương, bệnh lý liên quan tới xương (u xương, thoái hoá xương, chấn thương xương cột sống, chấn thương xương vùng nền sọ .v.v…) thì chụp cắt lớp được lựa chọn, các bệnh lý còn lại (u, viêm não, thoát vị đĩa đệm, thương tổn tuỷ sống .v.v…) thì thường chụp cùng hưởng từ mang thế mạnh hơn. Tuy nhiên, ở các nơi chưa mang cùng hưởng từ thì chụp cắt lớp vi tính cũng là bí quyết hữu hiệu giúp cho chẩn đoán các bệnh lý này.

Related Posts

3 comments

binance Препоръчителство 23/03/2024 - 6:27 chiều

Thank you for your sharing. I am worried that I lack creative ideas. It is your article that makes me full of hope. Thank you. But, I have a question, can you help me?

Reply
binance Registrace 01/04/2024 - 2:02 sáng

Can you be more specific about the content of your article? After reading it, I still have some doubts. Hope you can help me.

Reply
najlepsí binance odkazov'y kód 16/04/2024 - 9:52 sáng

I don’t think the title of your article matches the content lol. Just kidding, mainly because I had some doubts after reading the article.

Reply

Leave a Comment